MENU

Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa - công nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa - công nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

Tản mạn ... Ca-ve


              Ca ve cũng đủ hạng người
              Bán thân mà vẫn phải cười vì ai?
 
            1. Ca ve cao cấp nhất Việt nam tính đến nay có lẽ là Thuý Kiều, nhiều người nhận định như vậy. Thuý Kiểu bị đẩy vào lầu xanh cũng chỉ vì phải bán mình cứu cha, thật là một đứa con có hiếu. Trong thời đại ngày nay, tình hình đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt là sự bất hiếu gia tăng hàng ngày thì hình ảnh đứa con có hiếu như Thuý Kiều mới có giá làm sao.
            Cần phải tuyên truyền thật mạnh những tấm gương có hiếu để giáo dục thế hệ trẻ hiện nay. Thực tình mà nói thì hầu như ca ve (trên 90%) bán mình vì tiền, vì cuộc sống mưu sinh, vì thân phận nghèo hèn, đa số họ là người nhà quê, sinh ra và lớn lên ở mảnh đất “chó ăn đá gà ăn sỏi” thì biết kiếm đâu ra tiền ngoài việc bán thân.

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

Thầy giáo "đứng đường"


       Vụ mại dâm mà CA TPHCM vừa “hốt” ngay lập tức đã “gây bão” trong  dư luận. Hãy nhìn trong những từ khóa liên quan “Mại dâm nam”; “nghiện hút”; “Quý bà”, và…”Thầy giáo”. Không khó để nhận ra, dư luận sốc nặng chính từ tình tiết một thầy giáo phải đi bán dâm.
      Thế là từ nay, công cụ tìm kiếm sẽ mặc định thêm một cụm từ “thầy giáo bán dâm”. Nhưng thưa các bạn, với tư cách là một người học trò, đã từng là học trò, bạn có thấy đau đớn khi người thầy của mình, những người có khi chúng ta còn trọng hơn cha mẹ phải ẩn mặt dấu tên che thân phận kiếm tiền bằng cách bán đi thứ của cải lớn nhất là thanh danh.

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2013

Tư cách người Việt?



             Viết bài này tôi không vẽ ra một miếng bánh vẽ đầy màu sắc lung linh huyền ảo, không nhằm đả phá hay khen ngời bất kể ai, bất kể đơn vị tổ chức nào mà là đưa ra một cảm quan về thực tế cuộc sống đáng suy ngẫm cho những con người Việt Nam. Người Việt giờ đã có mặt trên khắp bốn biển năm châu. Và dù cho có đi đâu thì bản sắc người Việt vẫn không thể nào biến mất. Tôi gọi đó là văn hóa đời sống của người Việt Nam với những đặc trưng như sự hiền hòa, nhẫn nhịn, lối sống trọng tình cảm với anh em họ hàng… Nhưng chúng ta cần phải nhìn thẳng vào thực tế mà rắng song song với những cái rất đáng tự hào ấy thì trong cộng đồng rộng lớn bao la trên toàn cầu này còn có không ít (xin phép tránh để không nói đến từ đại đa số) những người Việt với những lối sống, cách ứng xử “bất hảo” và “suy đồi” đã khiến cho hai chữ Việt Nam ngày càng trở nên nham nhở và hoen ố trước con mắt bạn bè quốc tế. 

Thứ Ba, 30 tháng 4, 2013

Đâu là bản sắc Văn hóa Việt?

 Bùi Văn Thạch: Hôm nay dạo qua nhà của Bác sĩ Hồ Hải, thấy bài viết về bản sắc văn hóa Việt Nam rất đặc biệt và có con mắt nhìn rất khác. Nhưng nếu chậm chậm mà suy ngẫm thì chúng ta sẽ thấy một lối tư duy logic rất chặt chẽ của người viết. Nói đến văn hóa thực chất là đi tìm hiểu và tiên lượng những vấn đề bao trùm, bao quát trong đời sống xã hội xưa tới nay. Khi là sinh viên mình chỉ nhất nhất chăm chăm theo giáo trình của hai ông lớn họ Trần (Trần Quốc Vượng - Trần Ngọc Thêm) mà thú thực mình thấy thích cái cách tiếp cận của cụ Trần Quốc Vượng hơn. Nhưng khi thoát ly khỏi những gì giáo trình cơ bản nhập môn văn hóa đi vào thực tế, trực tiếp tiếp cận, nghiên cứu sâu hơn qua nhiều giai tầng và nhiều lối tư duy từ đông sang tây tôi nhận ra có quá nhiều cách tiếp cận, có quá nhiều cách hiểu về văn hóa. Cái cốt nhất trong cách tiếp cận một vấn đề là ở góc nhìn và tư duy của người nghiên cứu. Anh nhìn vấn đề ra sao, lí giải nó như thế nào. Và đặc biệt khi anh đưa ra một vấn đề anh phải đủ luận cứ, luận điểm để chứng minh đủ sức thuyết phục. Những luận cứ luận điểm ấy tùy vào phạm trù của vấn đề mà sẽ có yêu cầu cao hay thấp. Thiết nghĩ với những gì bác Hồ Hải viết ra sau đây và những luận cứ chứng minh có lẽ cũng đủ sức thuyết phục rất nhiều người dù cho họ có là những thạc sĩ hay tiến sĩ văn hóa đi chăng nữa! Mời các bạn cùng tham khảo để mở rộng hơn phông nền kiến thức văn hóa của chính mình. Trân trọng!


Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013

Ôi lậy chúa - Bài làm văn "Cho nó máu tả về loài hoa Cứt Lợn"

 Vô tình đọc được bài làm này của một học sinh cấp II. Quả là cậu học sinh này có sáng tạo, hành văn rất tốt chỉ có điều cách hành văn chưa được giáo viên bộ môn dậy dỗ và uốn nắn chu đáo mà thôi.
    Mời các bạn theo dõi (Nói chung là tương đối shock) :


Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2013

Giáo hoàng Francis I - Vị Giáo hoàng khiêm cung của dân nghèo

Đá cuội (BVT): Thời gian qua rất nhiều bạn bè có dịp gặp gỡ hoặc điện thoại hàn huyên trò truyện đều thắc mắc với tôi một câu: Tại sao đang tự nhiên Giáo hoàng Benedict XVI (hay gọi là Biển Đức 16) lại từ nhiệm? Chắc chắn phải có bê bối gì thì ông ấy mới từ nhiệm như thế chứ? Tôi chỉ cười! Đơn giản bởi theo những gì mà chính tôi được biết và được nghe từ nhiều nguồn thì việc đức giáo hoàng Biển Đức 16 từ nhiệm đơn giản là vì lí do sức khỏe, ngoài ra không có bất kể lí do nào khác. Xin các vị hãy đừng áp đặt cái lối suy nghĩ khi nhìn vào nền chính trị Việt Nam luôn tìm mọi mánh khóe để được có chức và thăng chức. Việc ai đó phải từ bỏ chức vụ béo bở không đơn giản bởi họ thấy rằng họ cần ra đi để người khác tốt hơn lên thay giúp ích cho dân cho nước mà là vì họ bị cấp trên, bị tổ chức buộc phải ra đi vì một bê bối nào đó.Với những người là con thiên chúa nói riêng và những con người thực sự dân chủ nói chung luôn luôn biết vì mình và vì mọi người. Giữa lúc con thuyền giáo hội chòng chềnh trên muôn ngàn sóng gió của thời đại thì luôn luôn cần một vị Giáo hoàng tỉnh táo, khỏe mạnh để có thể vượt mọi ghềnh thác đến với muôn nơi trong bất kể hoàn cảnh nào và bất kể lúc nào. Và vì thế việc ngài ra đi có lợi cho toàn thể giáo hội hơn là ngài cố gắng tại vị. 
Và Mật hội hồng y tại Vatican đã chọn được vị giáo hoàng thay thế cho đức giáo hoàng Biển Đức 16, người có tên là Jorge Mario Bergoglio - người con của chúa đến từ xứ sở Argentina. Sau đây tôi xin được gửi tới quý vị một số điều thú vị về đức tân giáo hoàng này:
Đức Giáo Hoàng Khiêm Cung Của Dân Nghèo (Nguồn: Nguyễn-Xuân Nghĩa)

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

CHUYÊN ĐỀ TÌM HIỂU MỘT SỐ ĐIỀU VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM - PHẦN IV

CHUYÊN ĐỀ TÌM HIỂU MỘT SỐ ĐIỀU
VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM
                                        Tác giả: BÌNH MINH (Bùi Văn Thạch)
CHƯƠNGIV
Những giá trị văn hóa đẹp trong cuộc sống của người Công giáo Việt Nam
            Tôi viết tiêu đề như thế không phải là phủ nhận những giá trị văn hóa truyền thống rất đẹp của mọi người dân Việt Nam kể cả lương dân lẫn giáo dân mà nhằm một mục đích suy niệm, tìm tòi ra những nét đẹp riêng mang BẢN SẮC KI-TÔ mà người công giáo Việt Nam đã tiếp nhận và hòa hợp nên một trong họ. Sự hòa hợp của cái bản sắc dân tộc và bản sắc Ki-tô giáo đã làm cho người Công giáo Việt Nam nên đẹp hơn ở nhiều khía cạnh đúng như giáo huấn của Vatican gửi cộng đồng giáo dân thế giới rằng: Sống đức tin trong lòng dân tộc!
            Là một bộ phận cấu thành cộng đồng dân tộc Việt Nam yêu dấu, người công giáo cũng mang trong mình những giá trị văn hóa truyền thống đã ăn sâu vào máu, vào trái tim vào nhiệt huyết, nó thấm đậm đến từng huyết mạch và hơi thở của họ như bao người dân Việt vậy. Dù bắc hay nam, đông hay tây, miền núi hay đồng bằng ven biển tất cả những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của họ đều mang một bản sắc rất chung Việt Nam nhưng cũng mang những giá trị riêng của từng vùng miền mà văn hóa học gọi là “Văn hóa Vùng”.

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

NHÃ CA TRONG CỰU ƯỚC: TÁC PHẨM TÌNH DỤC TUYỆT MỸ CỦA NHÂN LOẠI

 TS PHẠM TRỌNG CHÁNH
NTT: Tháng trước nhà thơ Việt Phương có gửi cho tôi bản dịch NHÃ CA của ông. Một bản dịch đầy chất thơ, với những ngôn từ tao nhã và gợi tình. Tôi đề nghị ông cho đăng lên nhưng ông bảo để xem lại đã. Trong khi chờ nhà thơ Việt Phương “xem lại”, tôi nhận được bài viết và bản dịch từ TS Phạm Trọng Chánh, Tiến Sĩ Khoa Học Giáo Dục, Viện Đại Học Paris V Sorbonne. Bản dịch này là một cố gắng đáng kể, xin giới thiệu để bạn đọc thưởng thức.
Nhã Ca là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ tình, mỹ tình dục nói lên lời yêu đương tình cảm và thân xác đôi trai gái. Một tác phẩm tuyệt tác trong kho tàng văn học nhân loại. Vào thời đại đồ sắt, nước Do Thái bị chia đôi làm hai nước và 12 bộ tộc, để thống nhất dân tộc Do Thái bị chia rẽ,ảnh hưởng việc vua Ai Cập đương thời chủ trương một vị thần duy nhất là thần Mặt Trời, thay vì hàng ngàn thần, vị vua đương thời Josias đã đề ra 7 điều thống nhất: Một vị thần Yavée duy nhất cho dân Do Thái, một dân tộc duy nhất, một vị vua duy nhất, một bộ sách giáo khoa  duy nhất, một thủ đô duy nhất là Jérusalem, một ngôi đền duy nhất, một nghi lễ tôn giáo Do Thái Giáo duy nhất. (Xem Israël Finkelstein et Neil Asher Silberman. La Bible dévoilée. Bayard. Paris 2002.)

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Chuyên đề tìm hiểu về đạo công giáo Việt Nam - Phần III


CHƯƠNG III. “ HỘI LÀNG” CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO
                                                                                         Tác giả: Bình Mình (BVT)

            
            Nói đến hội làng thì tôi chắc rằng bất kì ai là người Việt Nam cũng hiểu được giá trị và nét đẹp của nó. Tuy nhiên khi tìm hiểu đời sống của cộng đồng người Công giáo Việt Nam thì chúng ta lại không hề thấy họ có hội làng? Đơn giản bởi theo tín ngưỡng Ki-tô giáo thì các tín hữu chỉ được thờ một thiên chúa duy nhất “hết lòng, hết sức, hết linh, hết trí khôn” ngoài ra không có một chúa nào khác. Vì lẽ đó mà chẳng có thành hoàng làng, cũng chẳng có thổ công thổ địa cũng tức là chẳng có hội làng theo nguyên nghĩa văn hóa Việt Nam cổ truyền.
            Tưởng thế mà không phải thế!
            Người công giáo cũng có những cách thức riêng để làm nên một hội làng theo đúng tinh thần Ki-tô giáo. Cũng có đầy đủ phần lễ và phần hội như nhiều hội làng khắp cả nước nhưng nó được biến đổi một cách linh hoạt cho phù hợp với hoàn cảnh, văn hóa, phong tục, lối sống và niềm tin tôn giáo. Nó tạo nên một sự linh hoạt trong văn hóa cộng đồng giáo dân công giáo Việt Nam. Ở những vùng mà giáo dân chiếm đại đa số dân cư như khu vực Bùi Chu, Phát Diệm… chúng ta sẽ thấy văn hóa hội làng theo tinh thần Ki-tô giáo được thể hiện rất rõ.
            Ngày hội làng của người công giáo thường được chọn là ngày lễ thánh quan thầy bảo trợ của giáo họ (đơn vị làng của người công giáo). Thông thường mỗi một giáo họ, giáo xứ khi thành lập sẽ tự chọn cho mình một vị thánh trong số các vị thánh đã được giáo hội tuyên phong và suy tôn để làm vị thánh (“thần”) bảo trợ cho giáo dân của giáo họ, giáo xứ đó (giống như các vị thần, thành hoàng làng vậy). Và mỗi năm khi đến ngày mà giáo hội suy tôn vị thánh đó thì những giáo dân, giáo xứ sẽ tổ chức lễ hội, rước kiệu linh đình với niềm vui khôn tả và một tinh thần rất đậm chất suy tôn. Ví dụ như giáo xứ - nhà thờ chính tòa Bùi chu hàng năm sẽ suy tôn vị thánh quan thầy là Đa-minh vào ngày 8/8 dương lịch; hay như vương cung thánh đường- đền thánh Phú Nhai (thuộc Bùi chu) sẽ tổ chức lễ kính thánh quan thầy vào ngày 8/12 – ngày giáo hội dành để tôn vinh Đức mẹ vô nhiễm nguyên tội; hay như ngày 3/12 là ngày suy tôn thánh Phanxico Xavie của giáo xứ Lạc Nam(Bùi Chu)…
            Trong những ngày chuẩn bị lễ kính đó toàn thể giáo dân, các hội đoàn được triệu tập để tập dượt lại các chuyên môn của mình như hội trống, hội kèn tây, hội bát âm, hội trắc … Giáo dân và các chức sắc tôn giáo cũng chung tay dòn dẹp sơn sửa lại kiệu thánh, khuân viên nhà thờ … sao cho thật đẹp đẽ khang trang. Nhà nhà, người người đều tập trung dòn dẹp nhà riêng đẹp hơn, sạch hơn rồi tham gia dọn dẹp thánh đường. Mọi người đi mời khách là những người thân quen ở các làng khác (giáo họ giáo xứ khác) đến tham dự thánh lễ và sau đó sẽ về nhà gia chủ cùng chung bữa cơm vui tươi dầm ấm!
            Đến ngày lễ giáo dân từ già trẻ, gái trai đến các ông các bà trung niên, các cụ cao niên ai vào hội đấy đều nghiêm trang cùng hội đoàn của mình tham gia đoàn rước kiệu kính thánh quan thầy theo đường rước quanh khu nhà thờ đã được quy định từ trước. Cuộc kiệu này nhằm suy tôn vị thánh quan thầy đã bảo trợ giáo dân, giáo họ, giáo xứ, đồng thời cũng nhằm thể hiện niềm vui và hạnh phúc của mỗi người dân trong ngày hội lớn của làng. Mặt nữa còn thể hiện niềm tin và tinh thần Ki-tô giáo phong phú và đặc sắc.
            Cũng tùy từng giáo họ to hay nhỏ, nhiều hội đoàn hay ít  mà người ta tổ chức cuộc rước dài hay ngắn. Dưới đây tác giả xin được nói về diễn trình của một cuộc rước với đầy đủ các đoàn hội tổ chức thường thấy theo một trình tự như sau:

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

CHUYÊN ĐỀ TÌM HIỂU MỘT SỐ ĐIỀU VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM - PHẦN I


CHUYÊN ĐỀ TÌM HIỂU MỘT SỐ ĐIỀU
VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM

Tác giả: BÌNH MINH (Bùi Văn Thạch)


CHƯƠNG I
KIẾN GIẢI MỘT SỐ ĐIỀU VỀ KI-TÔ GIÁO


            Ki-tô giáo lấy bộ kinh thánh Cựu ước và Tân ước làm bộ sách thánh của mình. Một điều đắc biệt mà hôm nay ai cũng biết ấy là Kinh thánh Ki-tô giáo chính là bộ sách bán chạy nhất thế giới mọi thời đại. Có điều đó một phần cũng do người theo đạo Chúa Trời đứng hàng thứ 1 thế giới về số đông nhưng cũng một điều nữa là những vấn đề mà cuốn sách ấy đưa ra có sức hấp dẫn riêng của nó mà không phải chỉ những tín hữu mới mua mà rất nhiều người chẳng theo tín ngưỡng Ki-tô vẫn mua để tìm hiểu, luận giải nhiều điều của riêng họ.
            Nhiều người nói rằng “Cựu ước” nên đổi tên thành Giao ước thứ nhất, còn “Tân ước” nên đổi thành Giao ước thứ hai, tôi không phủ nhậ những suy luận logic của họ bởi điều đó cũng có phần đúng. Thực chất Cựu ước hiểu theo nguyên nghĩa của nó tức là Giao ước cũ (Cựu: cũ; Ước: Giao ước, hẹn ước), và Tân ước tức là Giao ước mới (Tân: mới; Ước: Giao ước, hẹn ước). Đạo Công giáo lấy cả Cựu ước và Tân ước làm hai bộ sách thánh và gọi là Kinh thánh trọn bộ. Theo một góc nhìn nào đó thì rõ ràng nếu có giao ước mới thì sẽ thay thế giao ước cũ là lẽ đương nhiên, tuy nhiên vấn đề ở đây chính là việc phát sinh giao ước mới lại dựa trên nền tảng giao ước cũ chính vì thế mà dù cho có gọi là giao ước thứ nhất, thứ hai hay là giao ước cũ mới thì chúng ta đều phải hiểu rằng hai cuốn giao ước lại thống nhất trong một vấn đề và phục vụ một vấn đề ấy chính là loan truyền về đấng cứu thế.
            Có thể nói nếu chúng ta chú tâm một chút chúng ta sẽ hiểu rằng Cựu ước là cuốn sách mà ở đó đức Giê-hô-va hay là Thiên chúa của Áp-ra-ham, của I-sa-ác… đã sáng tạo nên thế giới và loài người rồi ban cho họ những đặc ân được sống hạnh phúc ấm no trong vườn địa đàng. Nhưng con người vốn dĩ mang nhục thể thế gian chịu sự cám dỗ của con rắn xảo quyệt và Eva – Adam đã ăn trái cây đức chúa cấm để rồi mang vào mình tội lỗi gọi là tội tổ tong truyền cho muôn đời con cháu. Đó chính là nguồn cơn ban đầu để có một giao ước mang tính lịch sử chính là Đức chúa sẽ sai một đấng cứu tinh đến để cứu rỗi loài người khỏi tội lỗi. Xuyên suốt kinh thánh cựu ước chúng ta sẽ thấy đó là điều quan trọng nhất, còn các giao ước khác với các tổ phụ dân Ít-ra-en thì chỉ mang tính thời đại và mang tính giáo huấn cho những con dân Ít-ra-en mà thôi. Xin ví dụ như trong cựu ước có quy định rõ nếu con người phạm tỗi có thể giết một con Chiên, con Bê… để làm lễ tế và được tha tội. Nhưng tội tổ truyền thì vẫn chẳng được tha. Vậy nên phải cần đến một hy lễ đặc biệt để có thể được thiên chúa tha thứ trọng tội này? Hy lễ đó chỉ có thể được thiết lập khi Giê-Su( còn gọi là đấng Mết-si-a hay là đức Ki-tô) – chính là con chúa Trời là Ngôi lời nhập thể là Ngôi hai thiên chúa xuống thế và lập ra.
            Trong cuốn Cựu ước có rất nhiều sách như Sáng thế, Xuất hành, Lê-vi, Đệ nhị luật, Các vua…mô tả lịch sử của loài người từ khi thiên chúa sáng tạo thế giới muôn vật và loài người đến trước thời Giê-su sinh ra, chủ yếu viết về lịch sử phát triển vận động của người It-ra-en. Khi tìm nói về cuốn Cựu ước tôi có thể nói rằng đây thực chất là một cuốn sách mang tính sử thi, thần thoại (mà nó vốn dĩ là thần thoại bởi nó là cuốn sách của đạo Do thái giáo) đã diễn tả một cách hào hùng và hung tráng những bước thăng trầm có nước mắt bi ai, có chiến thắng lẫy lừng của một dân tộc “được chúa chọn”.
            Tuy nhiên chính trong cuốn sách này đã truyền tải nhiều nội dung mà cho đến ngày nay nhiều người không thể hiểu và cũng là nguyên lý để họ nói những điều trái ngược tinh thần ki-tô giáo thậm chí là xỉ nhục đạo công giáo. Ấy chính là: Tại sao đã là Thiên chúa mà lại phải sợ con người? Thiên chúa mà lại đi ghen ghét ganh tỵ với loài người rồi chia rẽ loài người ra nhiều thứ ngôn ngữ là sao? Tại sao Adam- Eva phạm tội ăn trái cấm mà lại bắt cả loài người về sau mang tội ( rõ ràng ai làm người ấy chịu chứ sao lại bawtst muôn đời sau phải gánh chịu)? ….

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

Đậu phụ thối Trung Hoa

                                Đậu phụ thối – Món ăn mang bản sắc Trung Quốc

            Nếu bạn có một lần đến với Trung Hoa thì bạn không nên bỏ qua việc thưởng thức món ăn chỉ có tại Trung Quốc và cũng trở thành biểu tượng của ẩm thực Trung Hoa ấy chính là món Đậu Phụ Thối.
            Theo tương truyền thì vào đời vua Khang Hy, có một chàng thư sinh nghèo đi thi mấy lần vẫn không đỗ đạt. Do nhà nghèo nên anh ta không có nhiều tiền để chi tiêu, ăn uống, sinh hoạt. Đến khi tiêu hết sạch số tiền mình có mà việc thi vẫn chẳng thành công anh ta quyết định nghĩ ra làm một cái gì đó để bán kiếm tiền đợi đến kì thi sau thì thi tiếp. Và anh ta đã nghĩ ra việc làm đậu hũ bán. Mùa đồng, mùa xuân mát mẻ thì dễ bán nhưng khi mùa hạ tới, đậu hũ bị ế nhiều, anh tìm mọi cách để xoay sở và thế là nghĩ ra cách cắt nhỏ đậu hũ, cho vào một cái chum và ướp muối. Thật bất ngờ, vài ngày sau mở ra thấy đậu hũ tỏa một mùi vị khó tả, sau khi mạnh dạn nếm thử anh cảm thấy rất ngon và bắt đầu mang loại đậu hũ đặc biệt đó ra bán. Và sau một thời gian dài thì người ta dần dần thích món ăn của anh chàng này rồi hỏi han cách làm. Món đậu phụ thối được lan truyền rộng rãi từ đó.
            Nếu bạn thực sự là người sành sỏi về ẩm thực thì bạn không thể bỏ qua món ăn này khi có điều kiện đến với Trung Hoa. Dù bạn có đi đến Thủ đô Bắc Kinh – trung tâm hành chính, hay đến với Thượng Hải xa hoa giàu sang lộng lẫy. Dù bạn có đi từ Hồng Kông đến Ma cao hay tới với thủ phủ Đài Bắc của xư đảo Đài Loan thì đâu đâu bạn cũng có cơ hội thưởng thức món ăn đặc sản mà giá rất bình dân này. Thông thưỡng mỗi đĩa đậu phụ thối chiên giòn tính ra tiền Việt thì nó thường được bán với giá dao động khoảng 20.000  đến 50.000 VNĐ – Một mức giá không quá đắt để bạn có thể thử một dư vị khác lạ mang đậm bản sắc Trung Hoa.
            Tôi xin nói rằng có thể bạn không thể ăn được hết một miếng đậu phụ thối nhưng bạn vẫn cần thưởng thức nó, chí ít là ngửi mùi của nó và nếm thử một chút đậu đã rán giòn bên ngoài bìa đậu. Nếu ăn lớp đậu bìa ngoài đã rán giòn về cơ bản bạn sẽ gần như không cảm nhận được mùi nặng thum thủm của món này. Đó cũng là cách để bạn biết và thưởng thức món ăn khi không thể “ngửi” được! Và nếu bạn có thời gian sinh sống tại Trung Hoa một tháng, một năm hay nhiều năm thì tôi tin rằng bạn sẽ giống như bao người Trung Quốc khác từ ngửi mùi đã sợ cho đến nghiện món ăn vô cùng đặc sắc và ấn tượng này.
            Ngửi mùi thum thủm ấy thế mà ăn lại không hề chua mà thực ra lại rất ngọt – đó mới chính là cái dư vị độc đáo của món đậu phụ thối! Thông thường đậu phụ Việt Nam chúng ta chỉ cần hơi có mùi thôi là đã chua, rữa và chẳng thể nào ăn được. Nhưng với món đậu phụ thối trung quốc người ta cố tình tạo cho nó cái mùi “thum thủm” đặc trưng nhưng nguyên tắc là phải giữ nguyên hình dạng miếng đậu và không hề bị chua mà phải ngọt ngào! Một nghịch lý nằm trong một sản phầm độc đáo là vậy!
            Người ta chọn loại đậu nành thật tốt để làm ra thứ đậu hũ mềm, mịn. Sau đó cho đậu hũ ủ với nước cốt được chế biến từ măng tre, nấm đen… trong sáu tháng, rồi vớt ra để ngoài không khí trong sáu giờ (nếu vào mùa hè) và hai ngày (nếu vào mùa đông) tới khi đậu hũ nổi mốc và chuyển thành màu xám. Sau đó, người ta rửa sạch đậu hũ bằng nước tinh khiết, để khô tự nhiên và bắt đầu mang ra bán. Thứ đậu hũ “thiên hạ đệ nhất thối” này được chiên ngập trong chảo dầu và dùng kèm với nước tương (được hâm nóng) và cải bắp muối.
                        Nếu có cơ hội các bạn hãy đừng bỏ qua mà nên thử thưởng thức xem như thế nào nhé!
                                    Bình Minh – BVT. Shanghai-China 30/09/2012

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

ĐÔI ĐIỀU MẠN ĐÀM VỀ “ĂN CỖ LẤY PHẦN”



ĐÔI ĐIỀU MẠN ĐÀM VỀ “ĂN CỖ LẤY PHẦN”
                                                                      Bình Minh 

           Gần đây tôi vô tình đọc được nhiều ý kiến của nhiều blogger nói về tục lệ ăn cỗ lấy phần, đồng tình có, phản đối có. Khen có mà chê cũng có. Nhưng tựu chung lại có rất nhiều ý kiến phản đối thậm chí còn tỏ rõ thái độ thóa mạ với cái tục lệ lạ đời này.
            Câu hỏi đặt ra trong tôi là liệu tục lệ này có đáng bị lên án đến như thế chăng?
            Đâu mới là giá trị thật sự của một tục lệ mang tính tuyền thống này?
                                    

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2012

Tìm hiểu đôi điều cơ bản về phật giáo

 
Khái quát về lịch sử ra đời và phát triển của phật giáo

       Phật giáo xuất hiện ở miền Bắc Ấn Độ cổ đại (nay thuộc Nêpan) vào cuối thế kỷ VI trước Công nguyên. Khi ấy trong xã hội tình trạng phân chia đẳng cấp rất khắc nghiệt. Sự ra đời của Phật giáo thể hiện tinh thần phản kháng của những người nghèo, chống lại thuyết bốn đẳng cấp của đạo Bà la môn, tìm con đường giải thoát con người khỏi nỗi khổ triền miên trong xã hội nô lệ Ấn Độ.Theo đạo Bà la môn, mỗi người thuộc một đẳng cấp nhất định: Bà la môn, quý tộc, bình dân gồm người buôn bán, thợ thủ công, nông dân và nô lệ… tức là có bốn đẳng cấp là Tăng lữ – đẳng cấp cao quý nhất là Bà la môn sinh ra từ miệng của đấng Tối cao là thần Sáng Tạo Brahmâ và thấp hèn nhất là tiện dân-nô lệ. Người đẳng cấp nào sẽ mãi mãi thuộc đẳng cấp ấy. Không thể thay đổi. Đạo Bà la môn chủ trương đại sát sinh và hiến tế nên gia súc bị giết chết rất nhiều để hiến tế, thậm chí tế cả người. Đối với phụ nữ, chồng chết phải hỏa thiêu và vợ cũng bị hỏa thiêu theo…- Người sáng lập Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni (nghĩa là ông thánh hay nhà hiền triết của tộc người Thích Ca). Đây là tên gọi khi thành đạo. Tên thật của Thích Ca Mâu Ni là Siddhartha (Tất đạt đa) nghĩa là “người thực hiện được mục đích”, họ là Gautama (Cù Đàm), vốn là con đầu vua Tịnh Phạn. Thích Ca Mâu Ni sinh ngày 8 tháng 4 năm 563 trước công nguyên, và mất năm 483 trước công nguyên. Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ cuộc đời vương giả của một thái tử để đi tu, tìm đường diệt khổ cho chúng sinh. Sau 6 năm, ông đã “ngộ đạo” và trở thành Thích Ca Mâu Ni (35 tuổi). Khi ấy ông lấy hiệu là Buddha có nghĩa là “người giác ngộ” (Trung quốc dịch là Phật). Người ta gọi ông là Sakya-muni (Trung quốc dịch là Thích Ca Mâu Ni - nhà hiền triết xứ Sakya).
   

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Lá thư đến từ THIÊN ĐÀNG của Giê-su

 Thiên đàng, ngày... tháng...năm…

Con yêu của Ta! Sáng nay con thức dậy. Ta dõi bước con và hy vọng con sẽ nói chuyện với Ta dù chỉ là vài lời, hỏi ý kiến Ta hay cảm ơn Ta về một việc gì đó xảy ra trên đời sống con.

Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2012

Cảnh giác cao độ với Hacker ăn cắp Nick Yahoo rồi lừa đả

      Lời cảnh báo được đưa ra từ chính bản thân ĐC, vừa mới bị ăn cắp nick, sau đó tên trộm đã chát với 1 vài người bạn mình với nội dung là nhờ mua thẻ cào điện thoại Mobilephone vì có việc cần gấp! Nhưng rất may là ĐC đã kịp thời lấy lại Nick bằng cách sử dụng những thông tin bảo mật mà tôi đã cài đặt khi lập Nick Yahoo!

      

    Tình trạng hacker đánh cắp mật khẩu email, nick chat Yahoo sau đó lừa đảo người thân hoặc bạn bè của nạn nhân lại rộ lên thời gian gần đây.